Home

Sơ Lược tiểu sử cụ Phan Bội Châu

Viết bởi THPT Phan Bội Châu - Bình Thuận   
Thứ tư, 24 Tháng 11 2010 17:59

 

THƯ NGỎ VỀ VIỆC TỔ CHỨC KỶ NIỆM 60 NĂM NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG

****************************************

   Kính gửi: - Các Thầy giáo, Cô giáo ; Cán bộ , Nhân viên đã và đang công tác tại trường.

                  - Các thế hệ học sinh của Trường.

                  - Các bậc Phụ huynh học sinh, các cơ quan đoàn thể và tổ chức Xã hội.

Trường THPT Phan Bội Châu Phan thiết, Bình Thuận thành lập năm 1952, đến nay đã tròn 58 năm trưởng thành và phát triển.

Gần sáu thập kỷ trôi qua, từ mái trường thân yêu nầy, bao thế hệ học sinh đã được ươm mầm, chắp cánh tung bay về vạn nẻo, mang hoa thơm trái ngọt cho đời. Trang sử vàng của trường theo năm tháng càng dày thêm với nhiều thành tích đáng trân trọng, tự hào.
Dòng thời gian ... bao đổi thay... song bóng dáng ngôi trường trung học mang tên nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu vẫn luôn hiện hữu cùng bao kỷ niệm nơi tâm hồn những ai từng gắn bó. Để rồi, dù chân trời góc bể, tóc xanh hay đầu bạc... ai cũng riêng mang một nỗi niềm khắc khoải về lại trường xưa với thầy cô, bạn bè năm nào!
Nhằm làm nhịp cầu tri âm, nối lại vòng tay thân ái giữa các thế hệ thầy trò, Trường trung học phổ thông  Phan Bội Châu  sẽ tiến hành xây dựng Phòng truyền thống trong năm nay (2010) và tổ chức ngày Hội trường kỷ niệm 60 năm ngày thành lập vào dịp 20 tháng 11 năm 2012.
Để ghi nhận bề dày lịch sử 60 năm xây dựng và phát triển của nhà trường; để tôn vinh các thế hệ thầy, trò và để đáp ứng tình cảm và lòng mong đợi họp mặt của các thế hệ Cán bộ, Giáo viên, học sinh của nhà trường. Đồng thời góp phần đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thống của Nhà trường, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho sự nghiệp xây dựng và phát triển Trường THPT Phan Bội Châu ngày càng lớn mạnh xứng đáng với lòng tin yêu của nhân dân thành phố Phan Thiết. Nhà trường kêu gọi các cơ quan, ban ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, các thế hệ Thầy Trò trong tp Phan Thiết, trong tỉnh, trên khắp mọi miền đất nước và nước ngoài bằng tấm lòng tri ân về ngôi trường mà mình đã từng công tác và học tập, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng, ủng hộ :

+ Về tinh thần : Các kỷ vật, hình ảnh , bài viết có thể là thơ, truyện ngắn, bút kí, tuỳ bút, hồi kí, ca khúc… về nhà trường, thầy cô, bạn bè .

+ Về vật chất : Các công trình lưu niệm, quỹ khuyến học, kinh phí cho hoạt động kỷ niệm.

+ Về thông tin : Tổng hợp cung cấp các thông tin, tư liệu về nhà trường, bản thân, lớp học, khoá học để hoàn chỉnh tư liệu về nhà trường trong 60 năm qua.

Nhà trường rất mong sự quan tâm, đóng góp của Quý Thầy, Cô và các thế hệ học sinh để việc xây dựng Phòng truyền thống và tổ chức lễ kỷ niệm được thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn!

**************************************

Sơ lược tiểu sử cụ Phan Bội Châu


Phan Bội Châu (Sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867 – mất ngày 29 tháng 10 năm 1940) là một nhà cách mạng Việt Nam trong phong trào chống Pháp. Ông đã thành lập phong trào Duy Tân Hội và khởi xướng phong trào Đông Du.
Thân thế  Phan Bội Châu:
Phan Bội Châu tên thật là Phan Văn San, tự là Hài Thu, bút hiệu là Sào Nam, Thị Hán, Độc Kinh Tử, Việt Điểu, Hàn Mãn Tử, v.v...

Theo gia phả họ Phan, ông sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867 tại làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, cha là Phan Văn Phổ, mẹ là Nguyễn Thị Nhàn. Ông nổi tiếng thông minh từ bé, năm 6 tuổi học 3 ngày thuộc hết Tam Tự Kinh, 7 tuổi ông đã đọc hiểu sách Luận Ngữ, 13 tuổi ông thi đỗ đầu huyện. Thuở thiếu thời ông đã sớm có lòng yêu nước. Năm 17 tuổi ông viết bài Hịch Bình Tây Thu Bắc đem dán ở cây đa đầu làng để hưởng ứng việc Bắc Kỳ khởi nghĩa kháng Pháp. Năm 19 tuổi (1885) ông cùng bạn Trần Văn Lương lập đội nghĩa quân Cần Vương chống Pháp nhưng việc không thành.Gia cảnh khó khăn, ông đi dạy học kiếm sống và học thi, nhưng thi suốt 10 năm không đỗ, lại can tội "hoài hiệp văn tự" (mang văn tự trong áo) án ghi "chung thân bất đắc ứng thí" (suối đời không được dự thi). Năm 1896, ông vào Huế dạy học, do mến tài ông nên các quan xin vua Thành Thái xóa án "chung thân bất đắc ứng thí". Khi được xóa án, ông dự khoa thi hương năm Canh Tý (1900) ở trường Nghệ và đậu Giải nguyên. Có tài liệu cho rằng bài làm của ông quá xuất sắc đến nỗi khi yết bảng, trường thi đã làm 2 bảng, 1 bảng ghi 5 chữ to "Giải nguyên Phan Bội Châu", bảng kia ghi tên những người thi đỗ còn lại. Câu Bảng một tên lừng lẫy tiếng làng văn từ đó mà ra.
Phong trào Đông du
Trong vòng 5 năm sau khi đỗ Giải nguyên, ông bôn ba khắp nước Việt Nam liên kết với các nhà yêu nước như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Hàm (tức Tiểu La Nguyễn Thành), Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Đặng Thái Thân, Hồ Sĩ Kiện, Lê Huân, Nguyễn Quyền, Võ Hoành, Lê Đại để cùng họ chống Pháp. Ông chọn một hoàng thân nhà Nguyễn, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, làm lãnh tụ phong trào Cần Vương.
Năm 1904, ông cùng 20 đồng chí họp mặt tại Quảng Nam để thành lập Hội Duy Tân.
Năm 1905, ông cùng Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc rồi sang Nhật Bản để gặp gỡ các nhà cách mạng Nhật và Trung Quốc và cầu viện trợ tài chính cho phong trào do ông thành lập. Tại Trung Quốc ông gặp Lương Khải Siêu, và được khuyên nên dùng thơ văn để thức tỉnh lòng yêu nước của dân Việt. Nghe lời khuyên, ông viết nhiều tác phẩm có tác động lớn với sĩ phu trong nước(Việt Nam Quốc sử khảo (1909), Ngục Trung Thư, Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư,Việt Nam Vong Quốc Sử, Việt Nam Quốc sử bình diễn ca (1927) …) Cùng thời điểm này chiến thắng của Nhật Bản tại trận Tsushima trong Chiến tranh Nga-Nhật đã tạo nên nhiều lạc quan trong các phong trào chống thực dân ở châu Á. Do đó, các tác phẩm của ông đã tạo nên một làn sóng mới thúc đẩy nhiều thanh niên yêu nước tham gia phong trào Đông Du, xuất ngoại học tập để tìm đường chống Pháp.Ngày 30 tháng 6 năm 1925, ông lại bị Pháp bắt tại Hàng Châu, ông bị dẫn giải về Hà Nội và xử án chung thân khổ sai. Về sau, bản án được đổi lại thành án quản thúc tại gia. Theo Việt Nam Pháp Thuộc Sử, ông được giảm án vì phản ứng mạnh mẽ của toàn dân đối với nhà cầm quyền Pháp.
Từ năm 1926, ông bị đưa về sống ở Bến Ngự, Huế, cho đến khi mất tại Huế vào năm 1940. Lúc đó ông được gọi là Ông già Bến Ngự.